四季(しき)の変化(へんか)と天気予報
(てんきよほう
   (Sự thay đổi của 4 mùa và dự báo thời tiết)

日本は、北海道ほっかいどう、本州ほんしゅう、四国しこく、九州きゅうしゅうの4つの大きいな島しまと沖縄本島おきなわほんとう、そして約7000もの島々しまじまが、北東ほくとうから南西なんせいにかけて弓型ゆみがたに連つらなっている。四季しきの変化へんかに富とみ、比較的温暖ひかくてきおんだんで住すみやすい。

Nhật Bản có 4 đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và 1 đảo là Okinawa, ngoài ra còn có khoảng 7000 đảo và quần đảo lớn nhỏ khác, chạy dài theo hình cánh cung từ phía Đông Bắc sang phía Tây Nam. Nhờ sự phong phú về thời tiết 4 mùa, khí hậu lại tương đối ấm áp nên cuộc sống ở đây rất thoải mái và dễ chịu.
 
そして、狭せまいとはいえ北きたから南みなみまで約やく3000㎞(キロメートル)もあるため、同おなじ季節きせつでも場所ばしょによって気候きこうがまったく違ちがうことがある。例たとえば夏なつは、同おなじ本州ほんしゅうの中なかでも、盆地ぼんちで暑あつくなりやすい京都きょうとと、避暑地として有名ゆうめいな軽井沢かるいざわとでは気温きおんが10℃(度ど)も違ちがったり、冬には、日本海側にほんかいがわの金沢かなざわで雪ゆきが数すう十㎝(センチメートル)も積つもっているのに、沖縄おきなわでは南国なんごくの花はなであるブーゲンビリアが咲さき、コートなしで出歩であるくことができたりするのだ。

Dù vậy, tuy là một đất nước có diện tích hẹp nhưng do trải dài khoảng 3000km từ bắc xuống nam nên dù có cùng một mùa, tùy vào vị trí mà mỗi nơi sẽ có khí hậu hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như vào mùa hè, dù là cùng ở trên đảo Honshu, vùng thung lũng dễ nóng như Kyoto và khu nghỉ mát nổi tiếng Karuizawa nhiệt độ chênh nhau đến tận 10 độ; vào mùa đông, ở vùng giáp biển Kanazawa tuyết chất dày đến mấy chục cm, thế nhưng ở Okinawa thì những loài hoa nhiệt đới vẫn nở, và bạn cũng có thể ra ngoài đi dạo mà không cần mang theo áo khoác.

こうした気候きこうの違ちがいや四季しきの移うつり変わりは、テレビや新聞しんぶんなどの天気予報てんきよほうからも感かんじることができる。それぞれの季節きせつごとに見てみよう。

Sự khác nhau về khí hậu hay sự thay đổi của 4 mùa, bạn cũng có thể thấy được nó qua các bản tin dự báo thời tiết trên báo đài hoặc tivi. Nếu có cơ hội, bạn hãy thử ngắm nhìn từng mùa ở những vùng khác nhau nhé.
 

春―――――――――――――――――――――――――――――   Mùa xuân

花粉症かふんしょうという言葉ことばを聞きいたことがあるだろうか。くしゃみや鼻水はなみず、鼻はなづまりや目めのかゆみなどの症状しょうじょうが出でるアレルギあれるぎー反応はんのうのことで、主おもにスギすぎやヒノキひのきの花粉かふんによって引ひき起おこされる。日本では花粉症かふんしょうの人が多いため、毎年まいとし、このスギ花粉かふんが飛とび始はじめる2月ごろから、気象庁きしょうちょうなどが花粉飛散情報かふんひさんじょうほうを発表はっぴょうし、毎日まいにちの天気予報てんきよほうで伝えられる。アレルギー反応はんのうが出ることで春はるの訪おとずれを感かんじるという人も少なくないようだ。

Chắc hẳn bạn đã từng nghe đến từ「花粉症かふんしょう」- dị ứng phấn hoa rồi chứ. Ngạt mũi hay ngứa mắt là những triệu chứng do cơ thể phản ứng lại loại dị ứng này, nguyên nhân chủ yếu là do phấn hoa từ cây tuyết tùng và cây bách nhật. Ở Nhật Bản có rất nhiều người bị dị ứng phấn hoa, chính vì thế, hàng năm, cứ vào khoảng tháng 2 khi mà phấn hoa bắt đầu bay ra, Bộ khí tượng sẽ phát thông tin về việc phấn hoa phát tán trên các bản tin dự báo thời tiết hàng ngày. Tuy nhiên, dường như cũng không ít người cho rằng việc mà bị dị ứng như vậy lại là một minh chứng cho việc rằng mùa xuân đã ghé thăm chúng ta. 


 




また、日本にほんの春はるは桜さくらの開花かいか予想よそうからも始まる。桜さくらは気温きおんが15℃ぐらいで開花かいかするため、南みなみの沖縄おきなわや鹿児島かごしまでは3月下がつげ旬、北海道東部ほっかいどうとうぶの釧路くしろなどでは5月下旬がつげじゅんというように、約やく2か月げつかけて北上ほくじょうしながら咲さいていく。その開花日かいかびを日本全国にほんぜんこくの都市としごとに予想よそうし、地図上ちずじょうに等圧線とうあつせんのように書かいたものが桜前線さくらぜんせんだ。日本の学校がっこうや企業きぎょう4月がつに新あたらしい年度ねんどが始はじまり入学式にゅうがくしきや入社式にゅうしゃしきが行おこなわれるため、桜さくらの花はなは、新入生しんにゅうせいや新入社員しんにゅうしゃいんたちが1年をスタートするイメージに重かさねられることが多い。

Bên cạnh đó, mùa xuân ở Nhật Bản cũng bắt đầu từ việc Dự đoán hoa anh đào nở. Do hoa anh đào chỉ nở trong nhiệt độ khoảng 15○C, nên chúng sẽ nở trong khoảng 2 tháng từ phía Bắc lên vào hạ tuần tháng 3 ở vùng phía nam Okinawa hoặc vùng Kagoshima và vào hạ tuần tháng 5 ở những nơi như Kushiro vùng miền đông Hokkaido.
Vào ngày hoa bắt đầu nở, tại các thành phố lớn trên khắp nước Nhật, bộ khí tượng sẽ dự đoán và dựa vào đường đẳng áp trên bản đồ để vẽ ra Biểu đồ dự báo hoa anh đào. Tại các trường học cũng như doanh nghiệp của Nhật Bản, tháng 4 sẽ là tháng bắt đầu niên độ mới và tổ chức lễ nhập học cũng như lễ đón nhân viên, vậy nên hoa anh đào tượng trưng cho hình ảnh những nhân viên hoặc học sinh mới khởi đầu một năm thuận lợi.


 
夏―――――――――――――――――――――――――――――   Mùa hè

日本は年間降水量ねんかんこうすいりょうが多いのが特徴で、6月から7月にかけて雨お日が多くなる時期じきを梅雨つゆと言う。各地方かくちほうの気象台きしょうだいが梅雨入つゆいりを発表はっぴょうし、天気予報てんきよほうでは梅雨戦前つゆせんぜんなどの用語ようごをよく耳にするようになる。農家のうかでは田植たうえの季節きせつでもある。日本には梅雨つゆがあることで、稲いねが育そだち、おいしいお米こめができるのだ。

Khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 số ngày mưa là rất nhiều, lượng mưa lớn chính là đặc trưng của mùa này vì thế nên mùa hè còn được gọi là Mùa mưa. Vào mùa này, chúng ta có thể nghe thấy những thông báo Bước vào mùa mưa từ phía các đài khí tượng ở các địa phương hay những từ ngữ chuyên dụng như Frông mưa. Đối với nhà nông thì đây chính là mùa trồng lúa. Chính nhờ có mùa mưa mà từ Nhật Bản, chúng ta mới có được những hạt gạo cũng như những bông lúa chất lượng.



 
そして、気象庁きしょうちょうが梅雨明つゆあけを発表すると、日本には蒸し暑あつい夏なつが訪おとずれる。

1日の最高気温さいこうきおんが25℃以上いじょうの日ひを夏日なつび、30℃以上いじょうの日ひを真夏日まなつびと言うが、地球温暖化ちきゅうおんだんかの影響えいきょうで、最高気温さいこうきおんが35℃以上いじょうの猛暑日もうしょびも増ふえてきた。また、夜よるになっても気温きおんが25℃以下に下がらない熱帯夜ねったいやも多い。

Ngay sau khi cục khí tượng thông báo Mùa mưa kết thúc cũng là lúc Nhật Bản đón cái nóng oi bức. Nhiệt độ cao nhất trong ngày từ 25 độ trở lên thì ngày hôm đó sẽ được gọi là Natsubi, nếu từ 30 độ trở lên sẽ gọi là Manatsubi, tuy nhiên do ảnh hưởng của việc nóng lên toàn cầu mà số ngày nhiệt độ cao nhất lên tới trên 35 độ - được gọi là Mosobi - cũng tăng dần lên. Bên cạnh đó, những đêm nhiệt độ không xuống dưới thấp hơn 25 độ - được gọi là Nettaiya – cũng rất nhiều.



秋あき――――――――――――――――――――――――――――― Mùa thu

その後ご、夏なつの終おわりごろから台風たいふうのシーズンとなり、日本の秋あきが始はじまる。

台風たいふうは熱帯低気圧ねったいていきあつが発達はったつしたもので、日本では、発生順はっせいじゅんに番号ばんごうを付けて「台風〇号たいふう  ごう」と呼よぶ。台風たいふうは大雨おおあめや暴風ぼうふうを伴ともなうため、日本に接近せっきん・上陸じょうりくすると洪水こうずいなどの災害さいがいをもたらす。また、稲刈いねかりの時期じきとも重かさなり、米こめの収穫しゅうかくに影響えいきょうすることも少なくない。そのため、気象庁きしょうちょうは台風たいふうが発生はっせいするとその勢力せいりょくや進路しんろを予想よそうし、天気予報てんきよほうで「台風たいふう10号ごうは現在げんざい、太平洋たいへいようを強つよい勢力せいりょくを伴ともなって北上中ほくじょうちゅうで…」のように最新さいしんの台風情報たいふうじょうほうを伝つたえ、注意ちゅういを促うながしている。

Ngay sau khi mùa hè kết thúc, thời tiết sẽ chuyển sang Mùa bão, và mùa thu cũng bắt đầu.

Bão được hình thành nên từ áp thấp nhiệt đới, ở Nhật Bản, dựa theo thứ tự xuất hiện mà người ta sẽ đánh số và gọi tên cơn bão bằng số thứ tự của nó. Bão thường đi kèm với những cơn mưa lớn và gió mạnh, nên khi tiếp cận và đổ bộ vào nước Nhật sẽ gây ra những thảm họa, thiên tai như là lũ lụt. Thời điểm này lại trùng với mùa thu hoạch lúa nên sẽ gây ra không ít những ảnh hưởng cho nhà nông. Chính vì thế, khi có một cơn bão xuất hiện, Cục khí tượng sẽ đưa thông tin về cấp độ cũng như đường đi của nó trên các bản tin, cũng như liên tục có các hoạt động nhắc nhở, chú ý cho người dân chuẩn bị.




10月から11月にかけて秋あきが深ふかまると、日本列島にほんれっとうは紅葉こうように染そまる。桜前線ぜんせんと同おなじように紅葉前線こうようぜんせんという表現ひょうげんもある。紅葉こうようは寒さむくなることで始はじまるため、紅葉前線こうようぜんせんは桜前線さくらぜんせんとは逆ぎゃくに、北きたから南みなみへと移動いどうしていく。


Từ tháng 10 đến tháng 11 là khoảng thời gian giữa mùa thu, nước Nhật sẽ được nhuộm mình với màu lá đỏ. Giống như Biểu đồ dự báo hoa anh đào, chúng ta cũng có Biểu đồ dự báo lá đỏ. Lá đỏ hình thành khi trời bắt đầu lạnh, chính vì thế nên Biểu đồ dự báo lá đỏ sẽ di chuyển từ phía bắc xuống phía nam, ngược với Biểu đồ dự báo hoa anh đào.
 


冬ふゆ――――――――――――――――――――――――――――――  Mùa đông

四季しきの中なかで、地方ちほうによる違ちがいがいちばん大きいのは冬ふゆだろう。雪ゆきがたくさん降ふるかほとんど降ふらないかで、冬ふゆの景色けしきはまったく違ちがう。雪ゆきが多いのは山間部さんかんぶや日本海側にほんかいがわで、2月がつの積雪量せきせつりょうが2m(メートル)を超こえるところも少なくない。一方、太平洋側たいへいようがわでは空気くうきが乾燥かんそうした日ひが続つづくため、気象庁きしょうちょうが乾燥注意報かんそうちゅういほうを出して火災かさいへの注意ちゅういを呼よび掛かけることがある。


 
 Trong 4 mùa, mùa đông có lẽ là mùa mà ta có thể thấy rõ được sự khác biệt ở từng khu vực. Khung cảnh mùa đông sẽ khác hoàn toàn tùy vào việc tuyết rơi hay không. Ở các vùng núi hay phía biển tuyết rơi rất nhiều, có nhiều nơi lượng tuyết rơi đo được đã vượt quá 2m. Mặt khác, vào lúc này, những khu vực ở phía vùng biển Thái Bình Dương, những ngày khô ráo liên tục kéo dài, Cục khí tượng sẽ liên tục đưa ra những thông tin và kêu gọi người dân chú ý đề phòng hỏa hoạn.
                                                                                                                                                                         Nguồn: "日本情報”
                                               Biên dịch: Thanh Tùng